Hội đồng hương Vĩnh Phú tại CHLB Đức

Lễ hội Trò Trám và rước lúa thần

Đăng lúc: Chủ nhật - 04/12/2011 21:54 - Người đăng bài viết: Nguyễn Ngọc Minh
Lễ hội Trò Trám và rước lúa thần
Tứ Xã là một làng cổ thuộc huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ. Xưa kia, làng có tên là Kẻ Gáp – là nơi gặp gỡ, giao lưu giữa miền núi và đồng bằng, là nơi hình thành và bảo lưu nhiều lễ hội mang đậm tính dân gian cổ truyền tiêu biểu của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước thời kỳ Hùng Vương dựng nước. Một trong những Lễ hội mang đậm tính chất phồn thực ở Tứ Xã đó là Lễ hội Trò Trám.
Trò Trám là tên gọi phản ánh đặc điểm của trò diễn được tổ chức ở xóm Trám (trước kia, Tứ Xã là vùng trồng rất nhiều cây trám). Lễ hội Trò Trám là một trong những nét sinh hoạt dân gian đặc sắc của vùng trung du Đất Tổ gồm có 2 phần chính:
Phần lễ: Cầu mong cho mùa màng tốt tươi thể hiện ở lễ thờ sinh thực khí (Lễ mật nửa đêm 11/giêng), và rước lúa thần sáng 12/giêng hàng năm.
Phần trình nghề của “Tứ dân” mô tả các nghề nghiệp trong cuộc sống đời thường của người dân xưa: Sĩ – Nông – Công – Thương.
Qua Trò Trám sẽ thấy cả khát vọng, nét sinh hoạt buổi hoang sơ của cư dân Việt Cổ ven sông Hồng. Dù cư dân Tú Xã đã có nhiều thay đổi cùng lịch sử nhưng Trò Trám vẫn là một trong những lễ hội dân gian cổ xưa nhất còn lưu truyền đến ngày nay.
Tứ Xã có các di chỉ khảo cổ học nổi tiếng: Gò Mun, Đồng Đậu con, Gót Rẽ…Những cư dân ở đây đã có từ thời đại các Vua Hùng, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, con người vẫn sống liên tục trên một vùng đất. Tứ Xã hiện nay gồm: 32 xóm. Riêng xóm Trám hay còn gọi là xóm Kiến Thiết là một xóm nhỏ ở khu giữa xã. Nghe các cụ già kể lại, nơi đây ngày xưa là rừng cây trong đó có nhiều cây trám theo tiếng Hán gọi là “Cổ Lãm” người dân ở “Cổ Lãm” xưa là những người dân nghèo từ những vùng quanh đó, chủ yếu ở khu Mả Giang, gò cây Sung, gò Gai cách Tứ Xã 2km về phía Đông Nam và nhiều người ở nơi khác tới. Cuộc sống chủ yếu làm ruộng và đánh cá, nên tên phường Trám có cũng là do cách gọi của phường ngư dân (vùng này có tục đánh cá láng thờ làm lễ vào 13 tháng chạp – thể hiện một nghề sống chính của địa phương – còn có người cho rằng tên phường là liên quan đến phường hát vì Trò Trám cổ hát xướng). Người dân “Cổ Lãm” nghèo nhưng rất đùm bọc đoàn kết, tương thân tương ái, nên đã có câu tục ngữ: “Chết chôn đất nhà gia, sống làm nhà xóm Trám”, đất nhà Gia cao không sợ bị ngập lụt, còn về xóm Trám ở sẽ được thương yêu đùm bọc. Các cụ nói rằng sự tương thân tương ái thể hiện ở chỗ nhà nào sắm dụng cụ lao động như cày cuốc, thid xóm nhiều nhà nghèo cứ đến mượn, quanh năm đông người mượn nên chóng hỏng, người này sắm hỏng lại đến người khác sắm nên vẫn có câu “đồ như đồ Cổ Lãm” ý nói hỏng hóc chẳng ra gì.
Xóm Trám chia làm 2 khu hay 2 ngõ hay 2 giáp. Tương truyền người lập ra xóm Trám là ông Ngô Quang Điện và con gái là Ngô Thị Thanh hàng năm làm ra hội trò để khuyến khích lao động, và vận động thêm người lao động về xóm.
Xóm Trám có một điếm lá 3 gian (nay lợp ngói) và một miếu nhỏ lợp lá (nay không còn). Miếu thờ một nữ thấn có tên thường gọi là “bà Dụ Đị” cái tên mang ý nghĩa phồn thực. Trên bàn thờ trong miếu xưa có 2 biểu tượng nam tính và nữ tính hình chày và mu rùa bằng gỗ, dân gọi là nõ nường, miếu Trám là nơi diễn trò nên còn gọi là miếu trò, cũng là nơi thờ bản thổ nữ thần Ngô Thị Thanh.
Điếm Trám là nơi tập trung già trẻ, nơi sinh hoạt chung của cả xóm. Sân Miếu Trám có ban thờ, có nồi hương, gặp ngày cầu, ngày tết dân phường đem lễ vật ra cúng bái cầu may. Sân Miếu Trám là sân khấu chính của Trò Trám.

Trò Trám là trò trình nghề dân gian tứ dân: Sĩ – Nông – Công – Thương. Các nhân vật trong trò trình nghề này chủ yếu là những nhân vật ở nông thôn trong đó nổi bật các vai thợ cầy, thợ cấy, thợ mộc…Trò Trám vừa có nghi lễ phồn thực vừa mang tính hài, có diễn xuất tho sơ, gần với hình thức đào diễn dân gian:
Cuộc đời vất vả sớm hôm
Đi xem trò Trám đủ ôm miệng cười
Trò Trám gồm 2 nội dung:
1. Phần lễ cầu: - Lễ lấy giờ nửa đêm: Cầu lúa thần.
2. Ra trò tứ dân:
Nọi dung Trò Trám tiến hành các bước:
Lễ lấy giờ:
Theo một số lời kể lại của các cụ xóm Trám lễ lấy giờ diễn ra vào nửa đêm ngày 11 tháng giêng. Dân xóm trước đó đã cử trước một ông cụ cao tuổi, gia đình sạch sẽ thuọc người xóm Trám hoặc ông từ của miếu Trò làm chủ lễ, gần nửa đêm ông chủ lễ dẫn một số thanh niên độ 5 – 10 người mang trống, chiêng ra miếu để lấy giờ, đánh dấu một mốc thời gian báo hiệu ngày mới.
Theo một số cụ và những tư liệu đã nghiên cứu, lễ lấy giờ này có liên quan đến tín ngưỡng thờ phồn thực nông nghiệp, còn gọi là “Lễ mật”. Khoảng 10 giờ đêm 11 tháng giêng, ông chủ tế tập hợp từ 5 – 10 người ở điếm Trám rồi cùng nhau khiêng trống, khiêng chiêng sang miếu Trò. Tới miếu mọi người ngồi chờ đợi, khi nghe gà gáy quang làng thì biết là nửa đêm giừo tý chủ tế thắp hương khấn “Bản thổ thị chi thần, Ngô Thị Thanh bằng sương cốt cách, kim ngọc tinh thần…”
Sau đó lễ mật bắt đầu: Trong miếu chỉ còn lại ông chủ tế và một đôi nam nữ thanh niên. Chủ tế đưa cho trai một chiếc dùi gỗ hình dương tính, trao cho nữ một chiếc mu rùa hình âm tính. Đôi trai gái sau câu xướng của chủ tế “Linh tinh tình phộc” phải dướn người lên, giơ cao dùi gỗ mu rùa, miệng hát rồi chọc mạnh vào nhau cho khớp:
“Bên ấy có nứng cùng chăng
Bên này lủng lẳng như giằng cối xay”
Nghi lễ này diễn ra 3 lần, nếu cả 3 lần đâm đều trúng thì năm đó làm ăn may mắn. Sau đó chủ tế dẫn các đôi trai gái chạy quanh miếu 3 lần khua chiêng gõ trống ầm ĩ để xua đuổi tà ma, rồi mọi người rước nồi hương từ miếu về điếm Trám. Nghe tiếng gà gáy quanh xóm lần thứu nhất thì lúc đó là giờ tý chấm hết thời gian ngày 11, bước sang ngày 12. Ông chủ tế và mọi người đứng dậy mang chiêng trống chạy xung quanh miếu 3 vòng, vừa chạy vừa khua chiêng, đánh trống reo hò ầm ĩ để xua đuổi tà ma quỷ quái. Sau đó về điếm Trám hát ghẹo, hát ví buổi ra trò hôm sau.
Rước lúa thần:
Ông chủ tế được bầu là người cao niên, đông con cháu nhà phong quang, có danh vọng chức sắc. Từ vụ gặt mùa năm trước ông chủ tế phải cất giữ cẩn thận một khóm lúa tốt, bông dài hột mẩy, đến gần tết lựa chọn thêm một ngọn mía (tượng trưng cho bông lúa thần), cả 2 thứ cắm vào một cái bình. Khoảng 8h – 9h sáng ngày 12 tháng giêng lễ rước lúa thần được tổ chức nhưng từ chiều tối hôm trước bát hương được rước từ miếu ra điếm Trám cúng: “Tế cáo”: - Tế cáo hình thức cúng đơn giản chỉ xôi gà, hoa quả cầu thần đất (thổ kỳ, thổ địa) ban phúc. Sáng 12 tháng giêng là tế đốn, khi tế đốn là ngôi thứ phân bậc tại điếm, tục lệ chia trác nặng nề, ăn uống linh đình. Đám rước bông lúa được diễn qua những cánh đồng thôn xóm đi theo con đường bờ hõ, gò vườn cũ, bờ đầm về miếu trò:
1. Miếu Trám có 2 cấp ban thờ gồm: 3 nồi nhang nhỏ ở bên trên; 1 nối nhang to ở bệ dưới.
2. Điếm Trám: Có 1 bàn thờ phía trên, dưới là sạp gỗ để ngồi theo ngoi thứ trong phường.
Lộ trình đường đi của rước lúa thần: Từ điếm Trám sau lễ Đốn, qua hồ phường Trám, vườn cũ, về miếu trò. Trong khi rước ông chủ tế đội mũ cánh chuồn bằng giấy nện bọc the có thêu chỉ vàng, chỉ bạc, mặc áo màu xanh, 2 tay om bình đựng lúa, trên đầu có lọng xanh che, phía trước có cờ, trống khẩu (loại trống nhỏ có chuôi dùng cho người chỉ huy) đám rước, đoàn bát âm, đằng sau 11 cụ già và dân chúng (các cụ già mặc áo lượt khăn vấn). Nhạc theo điệu lưu thuỷ, thỉnh thoảng nổi lên từng hồi: “Uốc hu huê…Uốc hu huề…” bày tỏ niềm vui của bà con. Đám rước về đến miếu Trò, một hồi trống dóng lên đón mừng, ông chủ tế lập tức đặt bông lúa lên bàn thờ rồi nổi hiệu trống chầu gọi trò 3 hồi 9 tiếng và chiêng ngân vang khai mạc cho hội diễn trình nghề của tứ dân.
Ra trò tứ dân:
Cả phường Trám chia làm 2 mảnh: mảnh trên và mảnh dưới, cả 2 mảnh đều làm trò nhưng trách nhiệm chính cho mỗi năm là mảnh là mảnh đăng cai, năm nay mảnh này, sanh năm mảnh khác đăng cai.
Mảnh được đăng cai cử ra một số thanh niện nam nữ, trung lão, trung niên ở bất cứ ngành giới nào, ngôi thứ nào miễn là dân phường Trám và có năng khiếu đối đáp, nghệ thuật. Vì vậy hàng năm só người diễn gần như chuyên nghiệp, song vẫn có thể thay và bổ sung người mới.
Những người ra trò được tập hợp tại sân nhà ông trùm (trưởng ban tổ chức trò Trám của mảnh đăng cai). Trước một ngày để tập dượt, thuộc vai chuẩn bị chu đáo cho ngày hôm sau. Khi nghe thấy tiếng trống báo mở màn trò, đám diễn trò đi từ nhà ong trùm vòng vèo qua đường thôn xóm Trám ra miếu trò. Sân khấu của trò diễn ở ngoài trời từ cổng nhà ông trùm tứi sân miếu Trò.
Cách thao diễn của các vai trò:
1. Người phát lao: (1 người)
Đi trước đoàn vừa đi vừa vung loa làm bằng cái nắn dán giấy đỏ xung quanh, ngoác miệng hô to: “Ôi loa loa loa, mời hàng sứ dãn ra để ta làm trò.
Ôi loa loa loa, mời quan viên hàng sứ dãn ra để phường ta làm trò”.
Từ khi có vai người cày được mệnh danh là “vua Thuấn cày voi” thì loa rằng: “Ôi loa loa loa, mời hàng sứ dãn ra cho ông Thuấn đi cày”. Người này có vai trò gọi loa và làm trật tự dọc đường đi liên tục của đám rước.
2. Người cầm biển: (1 người)
Biển làm bằng phên cót nhỏ 0,25cm, có dán giấy đỏ viết chữ Hán (Tứ dân chi nghiệp) giới thiệu đề tài của trò Trám. Vai này im lặng hoặc nói gì, hát gì tuỳ ý.
Hát giọng ca trù:
“Ối a năm cũ qua
Bước sang năm mới tôi ra trình trò
Trai thì giữ lấy nghiệp nho
Gái thì canh cửu chớ cho hỗn hào
Ra đồng cái giúp cái sào
Thấy đâu tát cá thì vào mà hôi”
3. Người cầm đàn chanh: (1 người)
Đang chanh là một cái mẹt lớn buộc vào cái dằng cối xay lúa, mẹt là bầu đàn, dằng cối xay làm thân đàn, buộc một sợi chạc làm dây đàn, trên đầu giằng cối xay buộc 4 cái đũa treo lủng lẳng giả làm trục dây, người cầm đàn làm động tác gảy đàn miệng kêu: phừng phừng; phừng phừng; kiết cò lử sinh sằng…Khi nghỉ tạm dọc đường hay khi đến sân xóm Trám người này hát giọng ca trù:
“Bản ngã là dân đi cày
Canh nông làm gốc xưa nay khác gì
Vua Thuấn ngũ đế canh vu sơn kỳ
Thái bình thiên hạ đặng vì đế vương
Muôn dân chớ lấy làm thường
Phong đăng hoà cốc đủ lương no lòng
Bấy giờ cấy hái đã xong
Rủ nhau đi hội ta cùng chơi xuân
Trai thanh tuổi đội đôi tuần
Gái mười tám tuổi thanh xuân đến kỳ
Ra đường người chẳng thiếu chi
Hai tay ran rúi ta thì chơi xuân
Em đừng nghĩ phú lọ bần
Bón mùa chỉ có vụ xuân làm đầu
Xuân xanh ai chẳng bắc cầu
Từ già chí trẻ ai hầu không xuân
Một phần thêm lại mười phần
Đa phú đa quý đa xuân đa tài”
(Mỗi lần hát một đoạn chừng 6 câu)
4. Người đi cày: (1 người – 2 người đóng trâu hoặc voi)
Người này tay phải cầm chiếc cày thật tháo lưỡi để dễ biểu diễn, tránh tai nạn và để gây cười, tay trái cầm một chiếc roi tre. Đi trước là một con trâu do 2 người đóng, người trước đóng đầu trâu đan bằng một chiếc bu gà hình trụ ngoài dán giấy đen dùng vôi vẽ mắt, mũi, miệng, đầu có đính thêm 2 cái tai bằng giấy cứng và 2 cái sừng bằng 2 thanh tre uốn cong. Đầu do người phía trước đội điều khiển. Lưng trâu đan bằng tre phủ chăn chiên úp trên lưng 2 người, đuôi trâu bằng chiếc bẹ dừa dập nát cho có lông và mềm để người sau dùng tay vẫy vẫy được. Bốn chân không có hoá trang gì, lúc đi, lúc nghỉ do người đi cày điều khiển: Vặt…diệt…họ. Thỉnh thoảng người đi cày vút roi vào lưng trâu nhất là khi con trâu lấy đầu và đuôi húc vào mấy cô gái đi xem. Khi nà có đoạn dừng nghỉ trâu mới được nằm xuống và người đi cày hát (ca trù): có gõ phách và đàn đưa nhịp bài hát:
Trò xưa tấn cũ khuyến canh nông
Bừa khoẻ cày sâu mới tốt đồng
Thấp sâu nong cạn cày không sót
Rộng hẹp nhỏ to cày cũng xong
Mới thật là trai phường ta
Dư tam dư cửu sánh vương công
Người này luôn làm những động tác cày đất, khi đi không ca hát gì cả, thể hiện đức tính lao động cần cù, nhân vật này hầu như không mang tính hài hước. Nếu người cày đóng vai “Vua Thuấn” cày voi (sau này mới có) thì con trâu đổi thành con voi:
Xuân thiên cảnh lịch
Khái ứng nguyện hành
Vốn tôi đây dòng dõi thần minh
Kẻ tên hiệu tôi là Ngưu Thuấn
Nghĩ cha mẹ tôi càng oán hận
Hận ở điều ăn ử không cân
Em dượng tôi ngạo mạn bất nhân
Ân tôi phải dĩ nông vi bản
Tôi cũng mong hữu gia hữu sản
Nhác trông lên núi lịch tốt thay
Ân tôi phải bắt voi cày núi đá.
5. Những người đi cấy: (4 người)
Mỗi người gánh một gánh lúa con hoặc mạ, vừa đi vừa co kéo hát đối đáp với các vai khác:
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông cho giữ trọn lời thề
Vợ đây chòng đấy đi về có nhau
Hoặc:
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy lấy ông chủ nhà
Khi ra đến sân điếm Trám hay sân miếu trò thì mọi người biểu diễn công việc cấy lúa nhổ mạ. Những năm sau này còn có lời hát:
Rạng ngày lác đác mưa xa
Thắt lưng con cón em ra ngoài đồng
Một tay bó mạ em bồng
Một tay rẽ nước chia sông bời bời
Gót son chẳng quản lấm bùn
Mong cho nòi giống ta còn nở nhân
Ở đời khó nhất sự ăn
Vì hay ăn quá nên cần trồng cây
Mai ngày lúa tốt xanh cây
Được mùa được bát cơm đầy ta ăn
6. Người đi câu: (1 người)
Tay cần câu bằng tre dài buộc dây thường, đầu dây có buộc 1 con cá đan bằng rơm dán giấy vẽ mắt, vây, mang…ở bên sườn đeo một cái giỏ (giúp) bên trong có con cá, con ếch làm bằng nan tre tết lại. Người này làm động tác buông câu nhử mồi và giật cá. Thường anh ta cứ nhử mồi về phía các cô gái đứng xem làm họ xấu hổ để dạt ra, hát, có khi co kéo với vai nữ:
Cần câu trúc anh uốn lưỡi câu vàng
Anh móc mồi ngọc anh sang câu hồ
Người ta câu riếc, câu rô
Anh đây câu lấy một cô không chồng
Người ta câu bể câu sông
Anh đây câu lấy con ông cháu bà
Có chồng thì nhả mồi ra
Không chồng thì cắn, thì nuốt, thì tha lấy mồi.
Các vai nữ co kéo hát đối với người đi câu cũng rất tuỳ tiện:
Người ta câu riếc, câu rô
Anh câu con tép cuối hồ chẳng xong
Người ta câu bể câu sông
Anh câu luẩn quẩn cánh đồng phường ta
Bao giờ sum họp một nhà
Con chày, con chắm có ta với mình.
Vai này về sau là Hàn Tín đi câu, bên sườn có dán giấy đỏ đề chữ Hán: “Hàn Tín điếu ngư thành hạ” (Hàn Tín câu cá dưới thành).
7. Người thợ mộc và thợ xẻ: (2 người)
Người thợ mộc trên vai gánh một chiếc hòm, một chiếc rìu lưỡi bằng giấy và một chiếc bào. Người này làm động tác gánh dụng cụ đi đường xa, thỉnh thoảng lại rao to: “Ai muốn làm nhà làm cửa có tôi là thợ mộc đây” và hát:
Anh đây là thợ khéo tay
Đường soi trái trám anh hay mọi bề
Bốn cửa trạm 4 con nghê
Bốn con nghê đực trâu về tổ tông
Bốn cửa trạm 4 con rồng
Tối thì rồng ấp ngày thì rồng leo
Bốn cửa trạm 4 con mèo
Tối thì bắt chuột ngày leo xà nhà
Bốn cửa trạm 4 con gà
Tối thì gà gáy sáng ra ăn vườn
Bốn cửa trạm bốn con lươn
Tối thì lên cạn ngày trườn xuống ao
Bốn cửa trạm 4 con dao
Mau liếc thì sắc, mau chào thì quen
Bốn cửa trạm 4 cái đèn
Bấc hỡi là bấc làm quen với dầu.
Khi có một vai nữ đến cầm tay hát ghẹo thì câu chuyện trở nên đậm đà:
Anh đi làm thợ nơi nao
Để em gánh đục, gánh bào đi cho
Anh đi làm thợ trên trò
Cậy em gánh đục đến cho tận nhà
Hoặc là:
Em ơi em ở lại nhà
Con thơ em dạy, mẹ già em thương
Anh đi làm thợ trong phường
Năm bữa nửa tháng việc xong anh về
Còn người thợ xẻ làm động tác xẻ gỗ với người thợ mộc. Cưa xẻ là giành cối xay, 2 người cầm 2 đầu cưa đi kéo lại trên đầu hoặc ngang tầm cổ người xem, làm mọi người dạt xa và cười.
Hai người hát:
Cò cưa ký cưa
Anh đóng thuyền ván anh đưa cô nàng về
Về sau này còn hát thêm những lời khi dừng dọc đường hay về đến miếu trò.
Thật vui nghề thậtvui nghề
Ta nhắn thợ làng quê
Tiếng coc cóc nghe thấy say mê
Ra đi ta làm thợ
Mùa xuân mới đi cùng nhau, tiếng lại vang ca
Suốt dọc đường bao người mong đợi thợ
Phường ta…
8. Người đánh lờ: (1 người)
Trên vai gánh 3 cái lờ đan bằng tre, trong để mấy con bấc đèn. Vai này phải hoá trang như một người đứng tuổi, tay chống gậy ngất nghểu vừa đi vừa hát:
Ai ơi chớ bảo tôi già
Tôi còn gánh nổi dăm ba cái lờ
Lờ này không phải lờ không
Năm ba con bấc nằm trong cái lờ.
9. Người kéo sợi: (1 người)
Vai đeo bị cói trong có một số con cúi, tay cầm chiếc dằng vải (dụng cụ để cuộn sợi làm động tác cuốn sợi vào dằng vải), vai này cùng hát ghẹo, co kéo với nam nữ. Những lời hát tự châm biếm như sau:
Con gái lấy bẩy tiền bông
Vừa cắn vừa kéo chẳng thông một ngày
Sợi lôi ra bằng cổ chày
Phường chài đến hỏi mua dây kéo thuyền
Sợi này tôi bán chợ phiên
Mua đắt, bán rẻ năm tiền được ba
Bán xong lê la hàng quà
Sáng ngày xúc miệng hết ba mươi đồng
Mặt trời ngả bóng cây thông
Mua quà sớp nữa nón bông đi đời
Chồng giận chồng đánh ba dùi
Mẹ chồng chẳng nỡ còn sui đánh chày
Đánh cho què quặt chân tay
Nó mà có khóc thì mày bỏ tro…
10. Người đi bán xuân: (1 đến 2 người)
Vai này mặc quần áo ngắn đầu trần chân không, có thắt lưng mầu bỏ múi bên sườn, tay phải cầm một cái biển bằng cái mẹt nhỏ dán mảnh giấy vàng hình vuông viết 2 chữ “Mãi xuân” bằng tiếng Hán (có người nói: Vai này gánh 2 cái bồ nhỏ dán giấy vàng viết 2 chữ “Mãi xuân” bằng tiếng Hán) miệng giao to:
Ai mua xuân mà
Hoặc hát:
Ai mua xuân kẻo hết xuân đi
Nay lần mai lữa còn gì là xuân.
Về sau vai này có 2 cô, mỗi cô gánh 1 đôi bồ nhỏ,, hoặc rổ, thúng, mẹt bên trong không có hàng hoá gì, 2 cô nắm tay nhau cùng hát:
Em là gái phường ta
Em đi buôn bán chợ xa chợ gần
Em đi đã chín đôi chân
Đi đến ngõ điếm đến sân làm trò
Kể từ đấu cám sâu cua
Ai thiếu em bán, ai thừa em buôn
Hay hát:
Còn tiền trợ Máy (Lâm Thao), chợ Mè (Phú Thọ)
Hết tiền ngả mẹt ngồi lê chợ chiều
Con tôm, con tép nói điêu
Mớ rau đấu cám liệu điều nói quanh
Nói cho nghe ngọt nghe lành
Rau vùng nói mát, quả xanh nói bùi
Gần đây còn có hát nơi tạm nghỉ hoặc sân điếm Trám, miếu trò lời sau:
Mua xuân tôi lại bán xuân
Ối tình là xuân năm mới
Ối tình là xuân năm cũ (ối a)
Bố cái xuân (ối a) xuân về
Xuân về thì xuân lại đi (ối a)
11. Thầy đồ (1 người) và học trò (5 người)
Vai này mệnh danh là “đậu yên sơn” theo sách Tam tự kinh thì ông thầy có 5 con đều đỗ đạt cả.
Thầy đồ tay cầm một cái bút lông bằng chổi rơm nhỏ, tay cầm roi mây. Học trò tay cầm sách bằng giấy bản, tay cầm bút lông (chổi rơm nhỏ hơn thầy) vừa đi vừa học: “học đi, học đi chứ tay vun vút chiếc roi mây trên đầu học trò và người xem. Học trò lần lượt đem sách đến hỏi thầy: - Chữ gì đây ạ? Nghĩa là gì ạ? Thầy dương mục kính (mắt kính làm bằng tre không có kính) giơ sách, nheo mắt thét bảo học trò:
- Trượng phu cốt cách, nghĩa do bồn
Quân tư tuy bần lẽ nghi thường tại
- Nông giả thiên hạ chi đại bản
Đủng đỉnh làm ăn thì ruộng cạn, mạ già.
- Thiếu tiểu tu cần học, văn chương khả lập thân
- Ấu như học, tráng như hành
- Tư thân tất hữu đức, tích thiện khả thành thân
Lúc đầu thầy đồ dạy nghĩa tốt, sau trò hỏi bực mình giải nghĩa:
Trò hỏi: - Nghĩa là gì ạ?
Thầy trả lời: Chữ trên là trên chữ dưới
Chữ dưới là dưới chữ trên
Chữ giữa là nửa xung quanh
Xung quanh là vàng chữ giữa
Trò hỏi: - Chữ gì đây ạ?
Thầy: - Chữ vương chữ bần
Trò: Nghĩa là gì ạ?
Thầy: - Thay trời trị nước chữ vương là Vua
Con mẹ bắt cua chữ bần là khó.
Vai này hài hước, châm biếm đạo nho của Khổng Mạnh, đả kích vào trật tự phong kiến gây tiếng cười mạnh mẽ.
Trong trò Trám đó có 11 vai chính. Thường các năm nông đi đầu, có năm sĩ ra trước, có năm còn thêm các vai người bắt ếch, lươn, người bán thịt, thợ cạo, thày địa lý…có kèm theo cả dụng cụ của nghề.
Đường đi của trò diễn quanh co khắp xóm có lúc tạm dừng vì chật trội xô đẩy của người xem. Khi đoàn trò ra đến sân miếu trò thì cũng gần kết thúc, mặc dù vẫn biểu diễn tiếp tục tại sân vườn quanh miếu. Đến đây đoàn cử người đại diện cho diễn viên đến trước bàn thờ miếu hát điệu ca trù 2 tay cầm 2 thanh tre già gõ nhịp bên cạnh người gảy đàn tranh hát thay nhau bài:
Phường ta quy củ lên tròn
Bờ hồ tích thuỷ phường còn giàu to
Nước thường mun chảy đọng quanh gò
Ngã 3 cửa miếu rộng to muôn phần
Đôi ngọt nước vần vần chảy khắp
Bến ven gò rộn rập phong ba
Ngắm xem phong cảnh làng ta
Hướng miếu thì để ngôi nhà rộng sinh
Hội phường ta vui vẻ linh đình
Chúc mừng các cụ khang ninh thọ trường
Trai trong phường văn chương láu suốt
Gái trong phường trải truốt sênh sang
Hội 12 nô nức xóm làng
Trong phường đấm ấm nữ nam dập dìu
Trên các cụ tăng nhiều tuổi thọ
Dưới trai phường gái họ xướng ca
Chẳng đâu vui bằng phường ta
Mười hai chính nguyệt phường ra hội cầu
Phường hai mảnh như nhau một dạ
Dưới trai phường hầu hại nghiêm trang
Ngôi tạo hoá nghênh ngang trông lịch
Nước non bồng róc rách đầy vơi
Phường ta nay vui vẻ thảnh thơi
Năm năm tăng thọ đời đời hiển vinh
Đôi ngọn nước giao tình trước mặt
Bốn con rồng luyện tập xung quanh
Đằng sau thuỷ tụ rành rành
Đằng trước lại có bức thành tiện xây
Cho nên phường được thế này
Từ già trí trẻ ai nay cũng hiền
Ngôi tạo hoá kiêm toàn văn võ
Phú hữu tài còn có về sau
Năm ba ngọn nước giao nhau
Cho nên mãi mãi phường giầu nơi ta…
Sau đó là những câu hát chung: Tuỳ mọi người nhớ và tự sáng tác hát đối đáp chung nhau:
Đôi ta như đũa tre già
Càng vót càng nhẵn, càng và càng trơn
Đôi ta như cá thờn bơn
Nằm trên bãi cát gặp cơn mưa rào
Ba cô mặc yếm hoa đào
Hỏi rằng đã có nơi nào hay chăng
Nơi nào cũng nói ra phăng
Xin chớ ngập ngừng ngày tháng phôi pha
Chúng em là gái đào hoa
Nghe thấy tiếng hát ai mà chẳng say
Gặp đây xin nói thật ngay
Tìm nơi kiếm chốn chúng em đây có chồng
Thế là câu chuyện chẳng thành
Ba cô bỏ quá cho anh. Chớ có bận lòng…
Trang phục trò Trám
1. Vai chủ tế: Đã nói ở phần trên.
2. Các vai nam: Không kể tuổi tác đều nhập vai riêng, thầy đồ và người đánh lờ phải hoá trang cao tuổi, vai học trò phải rất trẻ. Đầu đội khăn chít hoặc thắt “tai chó” khăn màu nâu tươi, quần áo màu còn tươi, lưng thắt giải bằng lụa hoặc nhiễu bỏ mũi về bên sườn phải. Riêng thày đò khăn lượt áo the, đeo kính. Người đóng trâu mặc quần áo ngắn bình thường tất cả đi chân đất.
3. Các vai nữ (hay nam giả nữ): Đôi khăn vải thô nhuộm nâu, yếm bằng vải nâu, tai đeo nấm bạc, mình mặc áo tứ thân, lưng thắt bao xanh đỏ, mặc váy. Vai nữ tuổi từ 17 – 25 tuổi. Các vai nữ bằng hoặc hơn vai nam để lúc hát còn có đôi. Nếu nam đóng nữ phải độn ngực.
Âm nhạc và làn điệu trong trò trám
Hát theo làn điệu thông thường đơn giản cứ 2 người nắm tay nhau kéo co mà hát, không có đệm nhạc. Các nhạc cụ đi theo đoàn có trống, chiêng, cồng, trống khẩu, nạo bạt cứ việc khua gõ tuỳ tiện. Lời hát cuối câu có tiếng ê kèm theo. Dần dần về sau có cải tiến hơn hát theo kiểu ca trù, ví, ghẹo…có thêm nhạc trống, phách nhị cho tăng phần nghệ thuật.
Phần tổ chức lễ hội trò Trám
Hội trò đều do 2 mảnh có người tham gia nhưng mỗi năm có 1 mảnh đăng cai. Mảnh đăng cai cử ông trùm trong Ban tổ chức lo liệu chia phần, sắp xếp chiếu nghỉ tại điếm Trám phường có quỹ chung là 4 mẫu ruộng + 8 sào hồ, hàng năm cho thu hoa màu.
Mỗi năm gia đình nào có con trai nếu có thể thu xếp được thì xin được mua ngôi thứ:
1. Vọng phường:
Nhà nào sinh trai thì xin được vọng phường đầu năm. Nếu trong phường có nhiều người đẻ con trai thì trong năm đó những nhà đó hợp nhau lại sửa một cỗ mời đủ quan viên trong phường ăn uống hôm hội lễ.
2. Ngôi trưởng:
Cứ 4 người sửa chung nhau 1 tiệc gồm có cỗ mặn (sôi, dò, nem, cơm, rượu); cỗ nước (chuối, bánh trôi, bánh dùng, chè) đủ các quan viên trong phường ăn một bữa.
3. Ngôi trùm:
Cao hơn ngôi trưởng một bậc cứ 4 người chung nhau sửa lệ phường tất cả 5 bữa: Một là như tả đơn, hai là bát lớn, 3 là bát con, 4 là xôi chè, 5 là bánh dày: Những bữa như vậy đều có thi thách dẫn đến sự tốn kém vô kể. Tuy vậy dựa vào mùa màng mà có cỗ to hay nhỏ. Còn 12 tháng giêng cứ phải có một bữa, to thì ăn vào ngôi thứ, nhỏ thì ăn vào quỹ chung của 4 mẫu ruộng, 8 sào hồ và tiền nộp treo phường của các cô gái đi lấy chồng. Hễ ai không theo được tục lệ làng thì ngày cầu không được chia phần. Nhà có con gái không được mua chức ngôi. Làm xong ngôi trưởng mới lên ngôi trùm.
- Ngày 12 lễ đốn: Ông chủ lễ được chia phần thịt bằng đôi con lợn khoanh trên mông. Còn sỏ + sôi chia cho các ông trùm. Hai mảnh 2 lợn mổ chia thịt sống cho mọi người làm theo tục lệ ngôi thứ của phường.
Trò Trám chính là lễ hội trình nghề, mua vui cho mọi người trong dịp lễ hội đầu xuân của làng cổ Tứ Xã. Với những nội dung diễn xướng phong phú, với những hình thức thể hiện rát khôi hài thông qua cách bố trí các đạo cụ của trò diễn đã gây nên những tiếng cười sảng khoái, làm tiêu tan những nỗi mệt nhọc sau một năm làm ăn vất vả. Điều này rất bổ ích đối với cư dân nông nghiệp trồng lúa nước như ở Tứ Xã. Chính vì vậy mà lễ hội trò Trám đã sống mãi trong lòng dân, trong đời sống văn hoá tinh thần của cộng đồng và tạo nguồn động lực mạnh mẽ động viên mọi tầng lớp nhân dân vượt lên khó khăn để tồn tại và phát triển, ý nghĩa sâu sắc của lễ hội trò Trám là ở chỗ ấy.

PhuthoPortal
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết