Trần Nguyên Hãn

Trần Nguyên Hãn là người làng Đông Sơn, huyện Lập Thạch, phủ Tam Đái, đạo Sơn Tây (nay là thôn Đa Cai, xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch). Ông là anh em con cô con cậu với Nguyễn Trãi.
Nguyên Hãn thông minh từ nhỏ, giỏi cả văn và võ, năm 15 tuổi đã thông hết các sách tứ thư ngũ kinh và các binh thư. Năm Nguyên Hãn 18 tuổi thì mẹ mất, Nguyên Hãn vừa cày ruộng vừa gánh dầu đi bán, đồng thời chiêu mộ tới 5000 hương binh, lập căn cứ địa luyện tập quân sỹ ở rừng Thần, gần chân núi Sáng Sơn, nghiên cứu tình hình, chờ thời cơ cứu nước.
Sau này, nghe gợi ý của Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn đã tìm đến tiếp kiến Lê Lợi tại núi Đầu (Lam Sơn). Ông nhận ra ở Lê Lợi một lãnh tụ lý tưởng cho cuộc khởi nghĩa mà ông đang mơ tưởng. Lê Lợi cũng nhìn thấy ở Nguyên Hãn một người tướng lĩnh mà mình đang cần. Thế là ngay từ khi mới đến, Trần Nguyên Hãn đã được đứng ngay vào hàng ngũ bộ chỉ huy cao nhất của cuộc khởi nghĩa. Ông có mặt khắp nơi và tham gia chỉ huy hầu hết các trận đánh quan trọng, có công đầu trong cuộc chiến chống quân Minh. Để ghi nhớ công lao diệt giặc Minh, giải phóng đất nước của ông, nhân dân xây dựng đền thờ Tả tướng quốc ở quê ông, thuộc thôn Đa Cai, xã Sơn Đông, Huyện Lập Thạch.

Trịnh Văn Cấn, “chủ tướng” của cuộc khởi nghĩa Thái nguyên

Trịnh Văn Cấn (1881 - 1918) tên thật là Trịnh Văn Đạt, quê ở thôn Yên Nhiên, xã Vũ Di, huyện Vĩnh Tường.
Xuất thân từ một gia đình nông dân lao động, từ nhỏ ông đã chứng kiến cảnh thực dân Pháp chém giết, cướp bóc nhân dân ta. Ứng mộ lính tập ở Vĩnh Yên, ông hy vọng chờ thời cơ “dùng gậy ông đập lưng ông”. Từ 1910, đóng quân ở Thái Nguyên, Đội Cấn tham gia ban chỉ huy cuộc khởi nghĩa của Quang Phục Hội. Đến 30/10/1917, Ban chỉ huy khởi nghĩa hạ lệnh hành động, quyết chiếm tỉnh Thái Nguyên làm căn cứ. Đội Cấn được nghĩa quân tôn là “Thái Nguyên Quang Phục Quân đại đô đốc”, nhanh chóng chiếm được toàn bộ cơ quan thống trị thực dân. Tuy nhiên do thiếu chuẩn bị về mặt tổ chức lãnh đạo, không định liệu trước được sự việc, nên sau 1 tuần lễ tuyên bố độc lập, Thái Nguyên lại rơi vào tay giặc. Lực lượng nghĩa quân phải rút ra khỏi tỉnh lỵ. Qua nhiều lần chiến đấu phá vòng vây của địch, lực lượng nghĩa quân hao mòn dần nhưng vẫn cố chống cự kiên cường đến người cuối cùng. Tháng 1/1918, thế cùng lực kiệt giữa vòng vây của giặc, Trịnh Văn Cấn đã tự sát để khỏi rơi vào tay giặc, nêu tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, chí căm thù giặc sâu sắc, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng cho chủ quyền dân tộc.

Nguyễn Thái Học

Nguyễn Thái Học sinh ngày 1 tháng 12 năm Nhâm Dần (1902) tại làng Thổ Tang, tổng Lương Điền, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (nay là Thị trấn Thổ Tang, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc). Ông là con cả của cụ Nguyễn Văn Hách và bà Nguyễn Thị Quỳnh. Gia đình ông là một gia đình trung nông sống bằng nghề làm ruộng và dệt vải, buôn vải. Từ 4 tuổi ông đã được cha mẹ cho đi học chữ Hán, và năm 11 tuổi ông bắt đầu theo học chương trình tiểu học Pháp-Việt tại thị xã Vĩnh Yên. [1]

Năm 19 tuổi ông thi đậu vào trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội, và nhận học bổng của Chính phủ Bảo hộ Pháp. Do tính tình cương trực và không thích khuất phục lối giáo dục của người Pháp, ông bỏ học vào năm thứ ba, và sau đó ghi danh học trường Cao đẳng Thương mại thuộc Đại học Đông Dương (1925-1927). Trong thời gian này, ông tham gia thành lập Nam Đồng Thư Xã, và tiếp xúc với một số sinh viên đồng chí hướng, trong số đó có Phó Đức Chính, sinh viên trường Cao đẳng Công chánh và Hồ Văn Mịch, sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm, hai nhà cách mạng tương lai sẽ gắn liền với cuộc đời cách mạng của ông sau này. [2]

Cũng trong thời gian là sinh viên của Đại học Đông Dương, Nguyễn Thái Học đã gửi cho Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varrenne một số bức thư kêu gọi chính quyền thực dân Pháp tiến hành một loạt cải cách tiến bộ ở Việt Nam. Sở dĩ Nguyễn Thái Học gửi những đề xuất cải cách của mình cho Varrenne vì ông ta vốn là một đảng viên của Đảng Xã hội Pháp, người vừa mới tới nhậm chức toàn quyền đã quyết định ân xá Phan Bội Châu và hứa hẹn nhiều cải cách rộng lớn ở xứ thuộc địa Đông Dương. Tuy nhiên, đó chỉ là những lời hứa suông, và ông ta không bao giờ quan tâm trả lời những bức thư đầy tâm huyết của Nguyễn Thái Học.

Hoàn toàn thất vọng về con đường cải cách của chính quyền thuộc địa, Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông đi đến quyết định là: con đường duy nhất để mở ra cơ hội phát triển cho dân tộc Việt Nam chỉ có thể là con đường dùng vũ trang lật đổ chế độ thực dân Pháp và chế độ phong kiến, thành lập một nước Việt Nam Cộng Hòa và thiết lập một nền dân chủ trên toàn cõi Đông Dương [1]